Giới
thiệu chung
Các
Công ước và Hiệp ước Quốc
tế về lĩnh vực Sở hữu Trí tuệ
mà Việt Nam tham gia
*
Công ước Stockholm về việc thành lập
Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế
giới.
Tổ
chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới,
tiếng Anh viết tắt là WIPO, được
thành lập trên cơ sở Công ước
ký tại Stockholm này 14.07.1967 gọi là Công
ước về việc thành lập "Tổ
chức Sở hữu trí tuệ Thế giới".
Đây là một tổ chức liên chính
phủ có trụ sở tại Geneve, Thụy Sỹ
và là một trong 16 Tổ chức chuyên môn
của Liên Hiệp Quốc. WIPO có trách nhiệm
thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế
giới thông qua sự hợp tác giữa các
quốc gia và quản lý các hiệp định,
hiệp ước khác nhau liên quan đến
các khía cạnh luật pháp và quản
lý sở hữu trí tuệ. Tính đến
ngày 22.06.1999 số nước thành viên của
WIPO là 171. Việt Nam là thành viên của
WIPO từ ngày 02.07.1976.
*
Công ước Paris về bảo hộ sở
hữu công nghiệp
Công
ước này được ký tại Paris
năm 1883, tính đến ngày 22.06.1999 đã
có tới 155 nước thành viên. Việt
Nam trở thành thành viên của Công ước
Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp
kể từ ngày 08.03.1949. Những điều
khoản chủ yếu của Công ước này
tập trung vào các vấn đề chủ
yếu sau:
Đối
xử quốc gia: Mỗi nước thành viên
của Công ước phải bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp cho công dân của
các nước thành viên khác như bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp cho chính
công dân nước mình.
Quyền ưu tiên: Nếu người nộp
đơn yêu cầu bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp nộp đơn đầu
tiên của mình ở một nước thành
viên của Công ước thì trong thời
hạn nhất định sau ngày nộp đơn
đầu tiên (12 tháng đối với sáng
chế và mẫu hữu ích, 6 tháng đối
với nhãn hiệu và kiểu
dáng công nghiệp) có thể nộp đơn
yêu cầu bảo hộ ở bất kỳ nước
thành viên nào và những đơn nộp
sau được xem như có ngày nộp đơn
cùng với ngày nộp đơn của đơn
đầu tiên.
Ngoài
ra Công ước còn quy định một số
điều khoản bắt buộc mà các nước
thành viên tuân thủ như tính độc
lập của Bằng độc quyền sáng
chế do nhiều nước cấp cho cùng một
sáng chế, quyền được ghi tên vào
Văn bằng bảo hộ của tác giả...
*
Thoả ước Madrid về đăng ký quốc
tế các nhãn hiệu
Thoả
ước này được ký tại Madrid
năm 1891, trong đó quy định việc đăng
ký quốc tế nhãn hiệu tại Văn
phòng quốc tế của Tổ chức Sở
hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ở Geneva.
Theo Thoả ước này thì công dân
của một nước thành viên của Thoả
ước muốn bảo hộ một nhãn hiệu
của mình tại nhiều nước thành
viên khác, trước tiên phải đăng
ký nhãn hiệu của mình tại Cơ quan
Sở hữu công nghiệp quốc gia, sau đó
thông qua Cơ quan Sở hữu công nghiệp
quốc gia có thể nộp đơn đăng
ký quốc tế cho Văn phòng quốc tế
của WIPO. Văn phòng quốc tế sẽ công
bố đơn đăng ký quốc tế và
chỉ rõ những nước thành viên mà
người nộp đơn yêu cầu bảo
hộ nhãn hiệu của mình (nước được
chỉ định). Nước được chỉ
định có thời gian 1 năm để xem
xét chấp nhận hoặc từ chối bảo
hộ nhãn hiệu trên lãnh thổ của
mình. Nếu sau 1 năm nước được
chỉ định không có ý kiến thì
nhãn hiệu coi như được chấp nhận
bảo hộ ở nước đó.
Tính
đến ngày 22.06.1999 Thoả ước Madrid
có 51 thành viên. Việt Nam tham gia Thoả
ước này từ ngày 08.03.1949. Tính đến
nay đã có hơn 50000 nhãn hiệu của
người nước ngoài được chấp
nhận bảo hộ tại Việt Nam thông qua
Thoả ước Madrid.
*
Hiệp ước Hợp tác Patent (PCT)
Hiệp
ước Hợp tác Patent được ký
tại Washington năm 1970. Tính đến ngày
22.06.1999 đã có 103 nước thành viên.
Việt Nam tham gia Hiệp ước từ ngày
10.03.1993.
Hiệp
ước này tạo khả năng cho người
nộp đơn đăng ký sáng chế thuộc
một quốc gia thành viên có thể nhận
được sự bảo hộ cho sáng chế
của mình ở mỗi nước trong số
nhiều nước thành viên khác bằng
việc nộp một đơn duy nhất (gọi
là đơn quốc tế) tại Cơ quan Sở
hữu công nghiệp quốc gia của nước
thành viên Hiệp ước mà người
nộp đơn là công dân hoặc có
chỗ ở thường trú hoặc nộp đơn
cho Văn phòng quốc tế của WIPO tại
Geneva.
Hiệp ước Hợp tác Patent còn quy định
chi tiết các yêu cầu đối với
đơn quốc tế, tra cứu đơn quốc
tế và thủ tục xử lý những đơn
này ở Cơ quan Sở hữu công nghiệp
của nước thành viên. Hiện nay phần
lớn đơn đăng ký sáng chế của
nước ngoài nộp vào Việt Nam là
thông qua Hiệp ước Hợp tác Patent.
Hướng dẫn khái quát
về các văn bản pháp luật về sở
hữu công nghiệp ở Việt Nam
Hệ
thống tổ chức chỉ đạo hoạt
động và quản lý sở hữu công
nghiệp
- Cục
Sở hữu công nghiệp trực thuộc Bộ
Khoa học và Công nghệ quản lý các
hoạt động sở hữu công nghiệp.
- Cục
Bản quyền tác giả trực thuộc Bộ
Văn hoá Thông tin quản lý về bản
quyền tác giả, còn ở cấp tỉnh
và thành phố Phòng Sở hữu Công
nghiệp trực thuộc Sở Khoa học Công
nghệ và Môi trường quản lý các
hoạt động sở hữu công nghiệp
còn Phòng Bản quyền tác giả trực
thuộc Sở Văn hoá Thông tin quản lý
các hoạt động liên quan đến
bản quyền tác giả.
Hệ thống đảm bảo
thực thi quyền sở hữu công nghiệp
Hệ
thống cơ quan xét xử và thi hành án:
Hướng
dẫn công tác xét xử các vụ án
về sở hữu công nghiệp cho các toà
án địa phương và tiến hành
xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm
các vụ án về sở hữu công nghiệp.
- Toà
án nhân dân cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương:
Xét
xử sơ thẩm các vụ án dân sự
và các vụ án hành chính về sở
hữu công nghiệp; xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm các vụ án hình sự
các tội liên quan đến sở hữu
công nghiệp.
-
Bộ Tư pháp (Cục thi hành án)
Hướng
dẫn nghiệp vụ thi hành án và chỉ
đạo, giám sát công tác thi hành
án.
- Sở
Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (Phòng thi hành án):
Thực
hiện cưỡng chế thi hành các bản
án, quyết định của toà án các
cấp.
Hệ thống các cơ quan hành chính bảo
đảm thực thi quyền sở hữu công
nghiệp trong nội địa:
-
Các cơ quan bảo đảm thực thi quyền
sở hữu công nghiệp cấp trung ương:
- Bộ
Khoa học và Công nghệ (Thanh tra Bộ):
-
Hướng dẫn thi hành các quy định
pháp luật về xử phạt hành chính
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
- Xử phạt vi phạm hành chính trong cả
nước
- Các cơ quan bảo đảm thực thi quyền
sở hữu công nghiệp thuộc địa
phương.
-
Hệ thống cơ quan hành chính kiểm
soát biên giới:
Hướng
dẫn thực hiện các quy định pháp
luật về sở hữu công nghiệp trong
xuất nhập khẩu hàng hoá.
Chỉ đạo, giám sát việc
thực hiện pháp luật và xử phạt
vi phạm pháp luật về sở hữu công
nghiệp tại biên giới.
- Cục
Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương:
Chỉ
đạo, giám sát việc thực hiện
pháp luật về sở hữu công nghiệp
trong xuất nhập khẩu tại địa phương.
Xử lý vi phạm pháp luật về sở
hữu công nghiệp trong xuất nhập khẩu
tại địa phương.
Kiểm
tra tại cửa khẩu việc thực hiện
quy định pháp luật về sở hữu
công nghiệp trong xuất nhập khẩu hàng
hoá. Xử lý vi phạm pháp luật về
sở hữu công nghiệp xảy ra tại cửa
khẩu.